Tài chính - Ngân hàng Đề thi vào NH tuyển dụng Tín dụng ngân hàng Phỏng vấn Thi tuyển Đề GDV Giao dịch viên kinh nghiệm thi tuyển tài liệu Đề Tín dụng-HTTD Kinh nghiệm Quan hệ khách hàng vietinbank kế toán Môn học vietcombank Kỹ năng sống gdv sacombank Thư viện luận văn Tin tức kĩ năng sống mb Kế toán ngân hàng Thanh toán quốc tế shb tài chính ngân hàng agribank giangblog ngân hàng thương mại vib Chứng khoán bidv lãi suất vcb VPBank techcombank Đề Kế toán ngân hàng Kế toán - Kiểm toán excel marketing Đề Tín dụng-QHKH Tài chính tiền tệ eximbank maritime bank qhkh Excel - Word 2007 Kĩ năng thi tuyển hdbank học tiếng Anh iq kinh doanh tiếng Anh Đề Tín dụng CV QHKH Doanh nghiệp Kiểm toán Phân tích Rủi ro Thực tập sinh acb bất động sản doanh nhân CVKHCN Kinh tế Lienvietpostbank MB Bank hsbc nợ xấu scb tin tài chính tài chính Báo cáo tài chính Bảo lãnh ngân hàng CVKHDN Hà Nội Hồ Chí Minh Kĩ năng phỏng vấn cho vay cv kinh nghiệm phỏng vấn lương thưởng phân tích tài chính đầu tư Cho thuê tài chính English for Banking HTTD KHCN Luật ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Phần mềm Quản trị TP bank Tiền tệ Tài liệu môn học công ty tài chính dịch vụ ngân hàng hiệu quả kỹ năng l/c nhân sự sales thẩm định giá ATM BacABank CV thẩm định Chuyên viên tư vấn Chuẩn mực kế toán Chứng từ Clip Công việc Dịch vụ FDI Hỏi đáp Hỗ trợ tín dụng KHDN Kinh tế học Kỹ năng bán hàng Kỹ năng giao tiếp Luật Lạm phát Lịch sử Maritimebank Ngân hàng Chính sách xã hội Ngân quỹ Nhật ký QHKH DN QHKHCN QHKHDN Thuật ngữ chuyên ngành Thẩm định tín dụng Tin học Vay tiêu dùng Video Clip cổ phiếu gmat khách hàng cá nhân kinh doanh thẻ kỹ năng mềm lợi nhuận nghiệp vụ ngân hàng nghề ngân hàng quy trình quản trị doanh nghiệp quản trị rủi ro rủi ro tín dụng seabank sinh viên thanh toán thuê tài chính thuế thành công thẻ tín dụng tuyển dụng giao dịch viên tỷ giá viettel vp bank xin việc xử lý nợ Đề Thẩm định-QLRR định giá Bài tập Bí quyết CFA CV tư vấn Chiết khấu Chỉ số tài chính Citibank Công nghệ FPT Hoàn thuế Hạn mức tín dụng IT Kho quỹ Kinh tế lượng Kinh tế quốc dân Kỹ năng viết email Lãi vay Lương Lễ tân NV Hành chính Nhân viên Tín dụng PVcombank QHKH CN Quản trị ngân hàng Shinhan Bank Thất nghiệp Thị trường tiền tệ Thủ thuật Trụ sở chính Tâm sự Tín dụng ngân hàng VBSP Vốn lưu động Xuất nhập khẩu abbank acb bank basel bão lãnh ngân hàng chi phí chính sách tài chính chính sách tín dụng cán bộ tín dụng câu hỏi phỏng vấn english funny giá thành huy động hình thành trong tương lai hệ thống tài chính hỗ trợ kinh doanh hộ nghèo hộ sản xuất khởi nghiệp kienlongbank kinh nghiem lãnh đạo nghề nghiệp ngoại tệ nguyên nhân nhnn nhà ở pgbank quốc tế thanh khoản thu hồi nợ thạc sĩ thẩm định thế chấp toeic top 10 trái phiếu tuyển dụng tập trung đợt 2 tăng trưởng tương lai tổ chức tín dụng vib tuyển dung Đề Thanh toán quốc tế ANZ BCĐKT BIDC Bao thanh toán Baroda Biểu mẫu Bài tập tự luận Bàn tay vô hình Bảo hiểm Bảo hiểm xã hội Bộ tư pháp CV Quản lý tài chính CV Thanh toán quốc tế CVQHKH CVQHKHCN Canon Cao học Chia sẻ Chiến lược Chiết khấu dòng tiền Cho vay hợp vốn Cho vay từng lần Cho vay đồng tài trợ Chuyên viên kinh doanh Chuyên viên kế hoạch tài chính Chuyên đề kinh tế Chính sách mới Chính sách xã hội Chăm sóc khách hàng Công chứng Công ty đại chúng Cộng tác viên DPRR Danh mục Dư nợ tín dụng Dự phòng rủi ro Dự án Dự án đầu tư EPS GDP GSAT Gian lận ngân hàng Giá vốn Giới tính Gsoft HCM HD bank Hiệp hội ngân hàng Việt Nam Hiệp hội ngân hàng châu Á Hoa Kỳ Hoa hậu Việt Nam Honda Honda Vĩnh Phúc Huế Hàm Vlookup Hành chính nhân sự Hệ thống ngân hàng Học viện tài chính Hồ sơ tín dụng Hỗ trợ khách hàng Hội sở chính IBM IMF IQ-GMAT-English Test Just-in-time KBNN KHDN lớn KHUT KUNN KV phía Bắc Kho bạc Nhà nước Khách hàng VIP Khách hàng doanh nghiệp Khích lệ Không kinh nghiệm Khế ước Kinh tế chính trị Kinh tế mở Kinh tế quốc tế Kinh tế đóng Kiên Giang Kiếm tiền online Kiểm toán AASC Ký hiệu tiền tệ Kỹ năng quản trị Logic Luận văn Làm việc nhóm Lãi bậc thang Lãi dự chi Lãi dự thu Lãi suất kép Lịch sử kinh tế Lịch sử kinh tế quốc dân Lợi ích MBA MBO MHB Management trainee Mobifone Mobilefone Mua bán sáp nhập Mô hình toán Mất tiền Mẫu đơn Mục tiêu NH nước ngoài NH Đồng bằng Sông Cửu Long NPV NV kinh doanh Nghiệp vụ Nghiệp vụ thẻ Nghệ thuật Nguyên tắc tài chính Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc Ngân hàng Trung ương Ngân hàng bán lẻ Ngân hàng thanh toán quốc tế Nói chuyện trước đám đông Overdraft P&G Pháp chế Pháp luật tài chính Pháp lý Pháp nhân Phân tích kỹ thuật Phương tiện thanh toán Phần mềm Excel Phần mểm Phẩm chất Quy hoạch tuyến tính Quản lý sảnh Quản lý tài chính Quản trị học Quản trị mục tiêu Quản trị viên tập sự Quốc hội Rollover Rủi ro thanh khoản Sản phẩm ngân hàng Sức cạnh tranh Sửa chữa TOEFL-TOEIC-IELTS TP Hồ Chí Minh TPB TPbank TSBĐ TTR Teller Test phi công Thi công chức Thi tuyển NH Thuê mua tài chính Thách thức Thái Lan Thư cảm ơn Thư tín dụng Thương mại cổ phần Thẩm định dự án Thẩm định khách hàng Thẻ Thị trường chứng khoán Thời gian Thời hạn vay Thủ quỹ Thử việc TienPhongBank Tiến sĩ Tiếp thị Tiền tệ ngân hàng Toán cao cấp Triết học Truyện cười Trắc nghiệm Tài chính cá nhân Tài chính doanh nghiệp Tài chính- ngân hàng Tài chính-Ngân hàng Tài khoản ngân hàng Tài liệu ngân hàng Tài trợ dự án Tài trợ ngoại thương Tìm kiếm khách hàng Tư vấn thẻ Tư vấn tài chính Tổ chức thanh toán toàn cầu Swift Tổ chức thẻ quốc tế Master Card Tổ chức thẻ quốc tế Visa Tự tin Tỷ lệ chiết khấu USD VAMC VBS VIB bank VN-index Vest Vietcapital Bank Vinaphone Viết CV Viết biên bản Viết tờ trình Việt Nam Vận đơn Xu hướng Xuất khẩu Xếp hạng tín dụng bài tập NHTM bài tập kế toán báo cáo thường niên bảng tính bảo hiểm tiền gửi bảo mật bệnh trì hoãn bộ máy doanh nghiệp chi phí phải trả chi phí sản xuất chyên viên quan hệ khách hàng chính sách chính sách lãi suất chất lượng kiểm toán công cụ thị trường tài chính cử nhân tài chính cửa sau daily bank doanh nghiep dự phòng phải trả economics facebook gia hạn giao dịch đảm bảo goal seek gpbank hiện tại hiệu quả tài chính hmtd hoạt động hoạt động kinh doanh hoạt động tài chính hát hóa đơn hạch toán học bổng học hỏi học vấn hối đoái hồi hương lập nghiệp hồng kông hợp đồng ielts internet banking interview khuyến mại khách hàng khó khăn khóa học khả năng chi trả khả năng thanh toán khởi nghiệp ngân hàng khủng hoảng khủng hoảng tài chính kiem toan kinh doanh ngân hàng kinh nghiem thi tuyen kinh ngiệm thi tuyển kinh te kinh thi tuyển kinh tế ngoài quốc doanh kinh tế xã hội kpi kê toán kĩ năng bán hàng kĩ năng mềm kĩ năng sông kĩ năng tuyển dụng kĩ năng viết mail kế toán thuế kế toán tổng hợp kỳ phiếu ngân hàng lienviet post bank lienviet postbank liên ngân hàng loại hình tín dụng ngân hàng luat ngan hang làm giàu lãi suất cho vay lãi suất danh nghĩa lãi suất hiệu dụng lãi suất huy động lãi suất ưu đãi lương khủng lợi thế thương mại lừa đảo malaysia master card msb mô hình môi trường chính trị ngan hang Viet Nam ngan hang ngoai thuong viet nam ngan hang nha nuoc ngoại hối ngân hàng Việt Nam ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam ngân hàng người nghèo ngân hàng nhà nước việt nam ngân hàng thương nghiệp ngân hàng thế giới ngân hàng tốt nhất ngân hàng điện tử nhà nước nhân công nhân viên ngân hàng nhân viên tập sự nhóm ngân hàng nhập khẩu nhật bản năm tài chính năng lực nước ngoài nỗi khổ nhân viên phi ngân hàng pháp phát triển kinh tế phân tính tài chính phí phỏng vấn song ngữ quản lý quản lý thời gian quản trị tài chính quỹ tiền tệ rút tiền rủi ro thanh toán sai lầm sai sót sam sung samsung scb bank southernbank steve jobs sản phẩm sản xuất sếp sứ mệnh tai chinh teen test tham nhũng thu chi ngân sách thu hẹp thu nhập thu nhập thấp thông tư thông tư 36 thư xin việc thẻ chíp thẻ từ thế giới thị trường tài chính thực trạng tieng anh tin ngân hàng tin tuyển dụng tiếng Anh giao tiếp tiền dự trữ tiền mặt toefl trích lập dự phòng trắc nghệm tài chính hành vi học tài sản tài sản cho thuê tài chính tài sản tài chính tài trợ tín dụng ngắn hạn tín dụng đầu tư phát triển tầm nhìn tập đoàn kinh tế tổ chức kinh tế tổ chức tài chính tỷ số tài chính vai trò nghiệp vụ vay vay nợ vi phạm hành chính viet sach vietbank vietcaptal bank visa vốn word wowapp xã hội xếp hạng tín nhiệm Điểm yếu Điện tử viễn thông Đông Nam Bộ Đông Á Đại Á Đảo nợ Đấu thầu Đề thi theo ngân hàng Đề án Đồng nghiệp đa dạng hóa đong á bank. tuyển dụng ứng viên

Sau hàng loạt vụ sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã tập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sĩ vào năm 1987 tìm cách ngăn chặn xu hướng này. Sau khi nhóm họp, các cơ quan này đã quyết định hình thành Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision), đưa ra các nguyên tắc chung để quản lý hoạt động của các ngân hàng quốc tế.

Năm 1988, Uỷ ban này đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I), yêu cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra. Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó mức vốn này cũng được hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó. Mục đích của Basel I nhằm:

- Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế.
- Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.

Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng. Theo đó, vốn của ngân hàng được chia làm 2 loại:

Vốn loại 1 (vốn cơ bản): Vốn loại 1 bao gồm lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay.



Vốn cấp 2 (vốn bổ sung): Vốn cấp 2 bao gồm tất cả các vốn khác như các khoản lợi nhuận trên tài sản đầu tư, nợ dài hạn với kỳ hạn lớn hơn 5 năm và các khoản dự phòng ẩn (như trợ cấp cho các khoản vay và trợ cấp cho các khoản cho thuê). Tuy nhiên, các khoản nợ ngắn hạn không có bảo đảm không bao gồm trong định nghĩa về vốn này. Tổng vốn sẽ bằng tổng của vốn cấp 1 và vốn cấp 2.

Theo quy định của Basel I, các ngân hàng cần xác định được tỷ lệ vốn tối thiểu cần có để bù đắp cho rủi ro. Thời đó, các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước mới chỉ nhìn nhận ra các nguy cơ từ rủi ro tín dụng, và vì vậy, mức rủi ro tín dụng mà ngân hàng đối mặt được xác định là tài sản điều chỉnh theo rủi ro của ngân hàng. Theo Basel I, tổng vốn của một ngân hàng cần ít nhất bằng 8% rủi ro tín dụng của ngân hàng đó.

Tỷ lệ vốn tối thiểu = (Tổng vốn/tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro) > 8%

Chúng ta hãy xem xét các bước tính dưới đây để hiểu hơn về tài sản điều chỉnh theo rủi ro và yêu cầu về vốn theo Basel I. Bảng 1 chỉ ra các hạng mục đã được định trước về mức độ nhạy cảm với rủi ro trên bảng cân đối kế toán, như là độ nhạy cảm với các sự kiện ngoài dự kiến gây ra tổn thất, được tính theo 4 loại trọng số rủi ro (0%, 20%, 50% và 100%).

Theo bảng 1, nếu một khoản vay không được bảo đảm trị giá 1.000 USD của một tổ chức không phải ngân hàng sẽ có trọng số rủi ro là 100%. Tài sản được điều chỉnh theo trọng số rủi ro lúc đó sẽ được tính bằng 1.000USDx100% = 1.000USD.

Do vậy, mức vốn yêu cầu tối thiểu phải đạt 8% tài sản được tính theo trọng số rủi ro sẽ là 80USD (8% x 1.000USD = 80USD). Nói cách khác, tổng vốn một ngân hàng phải nắm giữ cho khoản vay không được bảo đảm này sẽ là 80USD.

Theo đó, các trọng số rủi ro khác nhau với các loại tài sản khác nhau sẽ cho ra những yêu cầu về vốn khác nhau như bảng 2.
Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi có tính đến rủi ro thị trường. Theo đó, rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị trường chung và rủi ro thị trường cụ thể. Rủi ro thị trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trị thị trường do có sự biến động lớn trên thị trường. Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi về giá trị của một loại tài sản nhất định. Có 4 loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là tỷ giá lãi suất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa. Rủi ro thị trường có thể được tính theo 2 phương thức hoặc là bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc là bằng các mô hình giá trị chịu rủi ro nội bộ của các ngân hàng. Những mô hình nội bộ này chỉ có thể được sử dụng nếu ngân hàng thoả mãn các tiêu chuẩn định tính và định lượng được quy định trong Basel.

Mặc dù có rất nhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm 1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế. Một trong những điểm hạn chế đó là Basel I đã không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp và với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro tác nghiệp.
Chính vì vậy, từ năm 1999, Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra một Hiệp ước mới thay thế cho Basel I, và cho đến năm 2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn của Basel (Basel II) đã chính thức được ban hành. Với cách tiếp cận mới dựa trên 3 cột trụ chính, Basel II đã buộc các ngân hàng quốc tế phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản:

Nguyên tắc thứ nhất: Các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp (Cột trụ 1). Theo đó, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thị trường nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác nghiệp.

Nguyên tắc thứ hai: Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về những loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này (Cột trụ 2). Với cột trụ này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát:
+ Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn của họ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó.
+ Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn nội bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng. Họ cũng phải có khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu. Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này.
+ Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định.
+ Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu.

Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột trụ 3). Với cột trụ này, Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này.
Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro./.


Bảng 1. Trọng số rủi ro theo loại tài sản
Trọng số rủi ro
Phân loại tài sản
0% Tiền mặt và vàng nằm trong ngân hàng.
Các nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và Bộ Tài chính.
20% Các khoản trả nợ của ngân hàng có quy mô lớn
Chứng khoán phát hành bởi các cơ quan Nhà nước
50% Các khoản vay thế chấp nhà ở,…
100% Tất cả các khoản vay khác như trái phiếu của doanh nghiệp, các khoản nợ từ các nước kém phát triển, các khoản vay thế cấp cổ phiếu, bất động sản,…
Bảng 2.
Loại tài sản
Trọng số rủi ro
Tỷ lệ vốn
Số tiền
Tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro
Yêu cầu về vốn tối thiểu
Trái phiếu Chính phủ 0% 8% 1.000 USD 0 USD 0 USD
Trái phiếu đô thị 20% 8% 1.000 USD 200 USD 16 USD
Thế chấp nhà ở 50% 8% 1.000 USD 500 USD 40 USD
Vay không bảo đảm 100% 8% 1.000 USD 1.000 USD 80 USD
Theo yêu cầu của Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng. Các ngân hàng sẽ xác định các biến số như PD - Probability of Default: xác suất khách hàng không trả được nợ; LGD: Loss Given Default - tỷ trọng tổn thất ước tính; EAD: Exposure at Default - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. Thông qua các biến số trên, ngân hàng sẽ xác định được EL: Expected Loss - tổn thất có thể ước tính.

Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức sau:


EL = PD x EAD x LGD

Chúng ta sẽ xem xét lần lượt ba chỉ tiêu cấu thành công thức trên.

Thứ nhất, PD - xác suất không trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó. Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau:
  • Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng
  • Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành,…
  • Những dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi…
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính được xác xuất không trả được nợ của khách hàng. Đó có thể là mô hình tuyến tính, mô hình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp.

Thứ hai, EAD: Exposure at Default - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác định không quá khó khăn. Tuy nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần hoàn thì vấn đề lại khá phức tạp. Theo thống kê của ủy ban Basel, tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút vốn vay tới mức gần xấp xỉ hạn mức được cấp. Do đó, ủy ban Basel II yêu cầu tính EAD như sau:

EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân

Trong đó, LEQ - Loan Equivalent Exposure là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ. “LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân” chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân.

Việc xác định LEQ - tỷ trọng phần vốn rút thêm có ý nghĩa quyết định đối với độ chính xác của ước lượng về dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ. Cơ sở xác định LEQ là các số liệu quá khứ. Điều này dẫn đến những khó khăn lớn trong tính toán. Ví dụ, khách hàng uy tín, trả nợ đầy đủ thường hiếm khi rơi vào tình trạng này, do đó, không thể tính chính xác được LEQ của một khách hàng tốt. Ngoài ra, một số vấn đề dẫn đến sự phức tạp của LEQ có thể còn gồm: loại hình kinh doanh của khách hàng, khả năng khách hàng tiếp cận với thị trường tài chính, quy mô hạn mức tín dụng, tỷ lệ dư nợ đang sử dụng so với hạn mức,…

Thứ ba, LGD: tỷ trọng tổn thất ước tính - đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. LGD không chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh như: chi phí xử lý tài sản thế chấp, các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan.

Tỷ trọng tổng thất ước tính có thể tính toán theo công thức sau đây:

LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD.

Trong đó, số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố. LGD cũng có thể được coi là 100% - tỷ lệ vốn có thể thu hồi được. Theo thống kê của ủy ban Basel, tỷ lệ thu hồi vốn thường mang giá trị rất cao (70% - 80%) hoặc rất thấp (20 - 30%). Do đó, chúng ta không nên sử dụng tỷ lệ thu hồi vốn bình quân. Theo nghiên cứu của ủy ban Basel, hai yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất quyết định khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ là tài sản bảo đảm của khoản vay và cơ cấu tài sản của khách hàng.


Cơ cấu tài sản của khách hàng được nhắc đến ở đây với ý nghĩa thứ tự ưu tiên trả nợ khác nhau của các khoản phải trả trong trường hợp doanh nghiệp phải phá sản. Trên thực tế, khi một doanh nghiệp phá sản, tỷ lệ thu hồi vốn từ các khoản vay của ngân hàng thường cao hơn tỷ lệ thu hồi vốn từ trái phiếu bởi ngân hàng có quyền được ưu tiên trả nợ trước các nhà đầu tư trái phiếu. Bên cạnh đó, khi kinh tế trong tình trạng suy thoái, tỷ lệ thu hồi vốn cũng sụt giảm. Ngành nghề kinh doanh cũng ảnh hưởng nhất định đến tỷ lệ thu hồi vốn: các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng thường cho tỷ lệ thu hồi vốn cao hơn các khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ. Hiện nay, tồn tại ba phương pháp chính để tính LGD:

Một là, Market LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào thị trường. Phương pháp này được sử dụng khi các khoản tín dụng có thể được mua bán trên thị trường. Ngân hàng có thể xác định tỷ trọng tổn thất của một khoản vay căn cứ vào giá của khoản vay đó một thời gian ngắn sau khi nó được xếp vào hạng không trả được nợ. Giá này được tính trên cơ sở ước tính của thị trường bằng phương pháp hiện tại hóa tất cả các dòng tiền có thể thu hồi được của khoản vay trong tương lai.

Hai là, Workout LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tín dụng không trả được nợ. Ngân hàng sẽ ước tính các luồng tiền trong tương lai, khoảng thời gian dự kiến thu hồi được luồng tiền và chiết khấu các luồng tiền này. Việc xác định lãi suất chiết khấu phù hợp là vấn đề mấu chốt và nan giải nhất.

Ba là, Implied Market LGD - xác định tỷ trọng tổn thất căn cứ vào giá các trái phiếu rủi ro trên thị trường.Với việc xác định được tổn thất ước tính của một khoản cho vay, ngân hàng sẽ thực hiện được thêm các mục tiêu sau:
Như vậy, thông qua các biến số LGD, PD và EAD, ngân hàng sẽ xác định được EL - tổn thất ước tính của các khoản cho vay. Nếu ngân hàng tính chính xác được tổn thất ước tính của khoản cho vay thì sẽ mang lại cho ngân hàng rất nhiều ứng dụng chứ không chỉ đơn thuần giúp ngân hàng xác định chính xác hơn hệ số an toàn vốn tối thiểu trong mối quan hệ giữa vốn tự có với rủi ro tín dụng1.

Trước hết, việc áp dụng phương pháp IRB sẽ xác định đúng thực tế mức độ rủi ro của từng trạng thái rủi ro gồm các khoản cho vay doanh nghiệp, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), cho vay bán lẻ, cho vay thế chấp bất động sản, chứng khoán hóa, góp vốn cổ phần và các trạng thái không cân bằng khác2. Điều này có thể được tham khảo thông qua khảo sát của Goo Yong Ahn - Phó Vụ trưởng Vụ ổn định hệ thống tài chính thuộc Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc được tiến hành trong lộ trình ứng dụng Basel II của quốc gia này.

Hàn Quốc, tính đến tháng 4 năm 2005, đã có 4 ngân hàng áp dụng A-IRB, 6 ngân hàng áp dụng F-IRB và 8 ngân hàng áp dụng SA.

Chúng ta có thể hiểu rõ hơn vấn đề trên khi nghiên cứu một so sánh của hệ thống ngân hàng Hàn Quốc.

Như vậy, khi ngân hàng cho vay các khách hàng tốt, hệ số rủi ro giảm xuống, và tất yếu dẫn đến tài sản rủi ro tín dụng giảm. Kết quả là hệ số an toàn vốn tăng, điều này dẫn đến hình ảnh ngân hàng trở nên đẹp hơn đối với thị trường và các cơ quan giám sát.


Thứ nhất, giúp ngân hàng tăng cường khả năng quản trị nhân sự, cụ thể là quản trị đội ngũ cán bộ tín dụng. Theo lý thuyết quản trị, quản trị nhân sự bao gồm bốn vấn đề chính: tuyển dụng; đào tạo lại; hệ thống lương thưởng; vấn đề thăng tiến. Trên thực tế, nhiều ngân hàng trên thế giới đã xây dựng hệ thống chấm điểm kết quả công việc của cán bộ tín dụng để xác định mức lương và lộ trình thăng tiến phù hợp. Với cán bộ tín dụng, lương và thưởng thường được dựa vào số dư nợ, số lượng khách hàng và chất lượng tín dụng. Nếu cán bộ tín dụng có dư nợ cao nhưng chất lượng tín dụng thấp thì lương - thưởng vẫn có thể rất thấp, và tất nhiên là không thể thăng tiến. Như vậy, việc xác định mức tổn thất ước tính với từng danh mục cho vay của từng cán bộ tín dụng sẽ định lượng rõ chất lượng tín dụng của từng cán bộ. Điều này buộc cán bộ tín dụng phải luôn nỗ lực tránh rủi ro nếu không sẽ nhận mức lương - thưởng rất thấp cho dù là cán bộ có thâm niên cao.

Thứ hai, xác định tổn thất ước tính sẽ giúp ngân hàng xây dựng hiệu quả hơn Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng. Hiện nay, theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng, các ngân hàng Việt Nam đa phần vẫn áp dụng việc trích lập dự phòng theo “tuổi nợ”, chỉ có một số ít ngân hàng đã có hệ thống xếp hạng hiệu quả và sử dụng phương pháp định tính để xác định mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, từ đó trích lập dự phòng theo tỷ lệ phù hợp. Tuy nhiên, nếu ngân hàng xác định được chính xác tổn thất ước tính thì việc trích lập trở nên đơn giản, hiệu quả và chính xác hơn rất nhiều.

Thứ ba, việc xác định được tổn thất ước tính, đặc biệt là xác định được PD - xác suất khả năng vỡ nợ của khách hàng sẽ giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng việc giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay. Theo khảo sát của tác giả, các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đều có hệ thống xếp hạng khách hàng và hệ thống này được sử dụng để làm căn cứ cho thẩm định tín dụng và ra quyết định cho vay. Ví dụ, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chia khách hàng ra thành 10 hạng căn cứ vào số điểm khách hàng có được từ hạng AAA đến hạng D. Khách hàng bị xếp hạng CCC trở xuống sẽ không được vay tiền.

Thực tế, nếu chúng ta coi hạng khách hàng là biến kết quả, thì các biến nguyên nhân để xác định được biến kết quả trên chính là các đánh giá về tính hình tài chính, phi tài chính của doanh nghiệp hoặc cá nhân vay tiền. Như vậy, nó tương tự việc xác định biến kết quả PD. Điểm khác biệt quan trọng là: trong trường hợp thứ nhất, được xác định theo phương pháp “rời rạc”; trường hợp thứ hai, được xác định theo phương pháp “liên tục” dựa trên các mô hình toán. Như vậy, ngân hàng thương mại có thể dựa luôn vào kết quả của PD để tái xếp hạng khách hàng. Điều này vừa đảm bảo tính logic vừa đảm bảo tính khoa học.

Thứ tư, việc xác định chính xác tổn thất có thể dự tính sẽ giúp ngân hàng xác định chính xác được giá trị khoản vay. Điều này sẽ phục vụ hiệu quả cho việc thực hiện quy trình swap tín dụng, hay chứng khoán hóa các khoản vay của các ngân hàng thương mại sau này. Đây là một xu thế tất yếu mà các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ hướng tới vì swap tín dụng và chứng khoán hóa chính là những công cụ hiệu quả nhất để san sẻ rủi ro và tạo tính linh hoạt trong quản lý danh mục các khoản cho vay của mỗi ngân hàng thương mại.

Như vậy, việc xây dựng hệ thống ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ - IRB là xu thế tất yếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên, việc tính toán bất kỳ chỉ tiêu nào trong số 3 chỉ tiêu PD, LGD hay EAD luôn hết sức phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải có một cơ sở dữ liệu đầy đủ, được lưu trữ khoa học với những chương trình phần mềm xử lý dữ liệu hiện đại. Tất cả những vấn đề trên đều đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải đầu tư nguồn lực về tài chính, con người, thời gian rất khổng lồ và đặc biệt phải có lộ trình khoa học.


Giang's BLOG

Đăng nhận xét

Author Name

{picture#https://plus.google.com/u/0/+NguyenLeGiang-giangblog/posts?pid=5737023715536993762&oid=100168487491037518423} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#https://www.facebook.com/legiang127} {twitter#https://twitter.com/giangblog} {google#https://plus.google.com/u/1/+NguyenLeGiang-giangblog} {youtube#https://www.javascript:void(0)youtube.com/channel/UC4ZQOsqcoN7ogzwR2Bn4NpQ} {instagram#https://www.instagram.com/legiang127/}

Image 1 Title

Image 1 Title

Image 2 Title

Image 2 Title

Image 2 Title

Image 2 Title

Image 3 Title

Image 3 Title

Image 4 Title

Image 4 Title

Image 5 Title

Image 5 Title

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Author: Nguyễn Lê Giang. Được tạo bởi Blogger.
/*===================================== = Thêm thẻ Alt và Title cho ảnh bài viết =====================================*/