tháng hai 2010

tuyển dụng Tài chính - Ngân hàng Đề thi vào NH Giao dịch viên ngân hàng Tín dụng khách hàng cá nhân Khách hàng doanh nghiệp Phỏng vấn Tin tức chuyên viên quan hệ khách hàng Quan hệ khách hàng chuyên viên khách hàng kinh nghiệm thi tuyển sacombank Đề GDV Hỗ trợ tín dụng Thi tuyển vietcombank vietinbank giangblog tài liệu Đề Tín dụng-HTTD techcombank acb Kinh nghiệm kế toán gdv scb shb mb VPBank bidv vib Nhân viên Tín dụng Môn học agribank Thanh toán quốc tế Kỹ năng sống kĩ năng sống tin tuyển dụng TPbank Thư viện luận văn vcb Kế toán ngân hàng TP bank eximbank Đề Tín dụng-QHKH lãi suất ngân hàng thương mại tài chính ngân hàng CV Thanh toán quốc tế Lienvietpostbank Thực tập sinh kinh nghiệm phỏng vấn Chứng khoán seabank HD bank Kế toán - Kiểm toán Maritimebank cán bộ tín dụng excel Đề Kế toán ngân hàng hdbank vietabank MB Bank maritime bank marketing Excel - Word 2007 Kĩ năng thi tuyển Tài chính tiền tệ học tiếng Anh iq qhkh tiếng Anh tuyển dụng giao dịch viên Kinh tế Kiểm toán abbank kienlongbank kinh doanh tài chính Đề Tín dụng CV QHKH Chuyên viên tư vấn Doanh nghiệp Hà Nội Kĩ năng phỏng vấn Phân tích Rủi ro bất động sản doanh nhân pgbank tin tài chính CVKHCN Hồ Chí Minh Ngân hàng Nhà nước OCB cho vay chuyên viên tài trợ thương mại xuất khẩu chyên viên quan hệ khách hàng hsbc nhân sự nợ xấu sinh viên vp bank Đề Thẩm định-QLRR Báo cáo tài chính Bảo lãnh ngân hàng CV thẩm định CVKHDN Hỏi đáp cv kỹ năng lương thưởng phân tích tài chính thẩm định giá đầu tư Cho thuê tài chính Chăm sóc khách hàng Citibank Công việc English for Banking HTTD KHCN Kinh tế học Luật ngân hàng Phần mềm Quản trị Thẩm định tín dụng Tiền tệ Tài liệu môn học Tư vấn tài chính acb bank công ty tài chính dịch vụ ngân hàng hiệu quả l/c nghề ngân hàng nhnn sales thuế tin ngân hàng tỷ giá vietbank viettel ATM BacABank Bí quyết CV tư vấn Chuẩn mực kế toán Chứng từ Clip Cộng tác viên Dịch vụ FDI KHDN Kỹ năng bán hàng Kỹ năng giao tiếp Luật Lạm phát Lịch sử Ngân hàng Chính sách xã hội Ngân quỹ Nhật ký PVcombank QHKH DN QHKHCN QHKHDN Thuật ngữ chuyên ngành Thị trường tiền tệ Thủ thuật Tin học Vay tiêu dùng Video Clip câu hỏi phỏng vấn cổ phiếu gmat kinh doanh thẻ kĩ năng kỹ năng mềm lienviet postbank lợi nhuận msb nghiệp vụ ngân hàng quy trình quản trị doanh nghiệp quản trị rủi ro rủi ro tín dụng samsung thanh toán thuê tài chính thành công thẻ tín dụng xin việc xử lý nợ định giá ANZ Anh Văn Bài tập Bảo hiểm CFA Chia sẻ Chiết khấu Chỉ số tài chính Công nghệ FPT GSAT Hoàn thuế Hành chính nhân sự Hạn mức tín dụng Hỗ trợ khách hàng IT Kho quỹ Kinh tế lượng Kinh tế quốc dân Kỹ năng viết email Lãi vay Lương Lễ tân NPV NV Hành chính NamABank Pháp chế Pháp luật tài chính QHKH CN Quản trị ngân hàng Quản trị viên tập sự Shinhan Bank TP Hồ Chí Minh Thi công chức Thất nghiệp Trụ sở chính Tài trợ dự án Tâm sự Tín dụng ngân hàng USD VBSP Vốn lưu động Xuất nhập khẩu acca baovietbank basel bão lãnh ngân hàng bộ máy doanh nghiệp chi phí chuyên viên chính sách tài chính chính sách tín dụng english funny giá thành huy động hàng không hình thành trong tương lai hệ thống tài chính học acca hỗ trợ kinh doanh hộ nghèo hộ sản xuất khởi nghiệp kinh nghiem kĩ năng mềm kế toán công chứng anh quốc lienviet post bank lãi suất cho vay lãi suất huy động lãnh đạo ncb nghề nghiệp ngoại tệ nguyên nhân nhà ở nhân viên tập sự oceanbank quốc tế sacombank tuyển dụng thanh khoản thu hồi nợ thạc sĩ thẩm định thế chấp thời sự tiếng Anh giao tiếp toeic top 10 trái phiếu tuyển dụng tập trung đợt 2 tăng trưởng tương lai tổ chức tín dụng vib tuyển dung vietjet vốn Đông Á Đề Thanh toán quốc tế đong á bank. tuyển dụng BCĐKT BIDC Bao thanh toán Baroda Biểu mẫu Bài tập tự luận Bàn tay vô hình Bảo hiểm xã hội Bộ tư pháp CV Quản lý tài chính CVQHKH CVQHKHCN Canon Cao học Chiến lược Chiết khấu dòng tiền Cho vay hợp vốn Cho vay từng lần Cho vay đồng tài trợ Chuyên viên kinh doanh Chuyên viên kế hoạch tài chính Chuyên đề kinh tế Chính sách mới Chính sách xã hội Công chứng Công nghệ tin học Công ty đại chúng DPRR Danh mục Dư nợ tín dụng Dự phòng rủi ro Dự án Dự án đầu tư EPS GDP Gian lận ngân hàng Giá vốn Giới tính Gsoft HCM Hiệp hội ngân hàng Việt Nam Hiệp hội ngân hàng châu Á Hoa Kỳ Hoa hậu Việt Nam Honda Honda Vĩnh Phúc Huế Hàm Vlookup Hệ thống ngân hàng Học trực tuyến Học viện tài chính Hồ sơ tín dụng Hội sở chính IBM IMF IQ-GMAT-English Test IRR Just-in-time KBNN KHDN lớn KHUT KUNN KV phía Bắc Kho bạc Nhà nước Khách hàng VIP Khích lệ Không kinh nghiệm Khế ước Kinh tế chính trị Kinh tế mở Kinh tế quốc tế Kinh tế đóng Kiên Giang Kiếm tiền online Kiểm toán AASC Ký hiệu tiền tệ Kỹ năng quản trị Logic Luận văn Làm việc nhóm Lãi bậc thang Lãi dự chi Lãi dự thu Lãi suất kép Lịch sử kinh tế Lịch sử kinh tế quốc dân Lợi ích MBA MBO MHB Management trainee Mobifone Mobilefone Mua bán sáp nhập Mô hình toán Mất tiền Mẫu đơn Mục tiêu NH nước ngoài NH Đồng bằng Sông Cửu Long NV kinh doanh Nghiệp vụ Nghiệp vụ thẻ Nghệ thuật Nguyên tắc tài chính Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc Ngân hàng Trung ương Ngân hàng bán lẻ Ngân hàng thanh toán quốc tế Nói chuyện trước đám đông Overdraft P&G Pháp lý Pháp nhân Phân tích kỹ thuật Phương tiện thanh toán Phần mềm Excel Phần mểm Phẩm chất Quy hoạch tuyến tính Quản lý sảnh Quản lý tài chính Quản trị học Quản trị mục tiêu Quốc hội Rollover Rủi ro thanh khoản Sản phẩm ngân hàng Sức cạnh tranh Sửa chữa TOEFL-TOEIC-IELTS TPB TSBĐ TTR Teller Test phi công Thi tuyển NH Thuê mua tài chính Thách thức Thái Lan Thư cảm ơn Thư tín dụng Thương mại cổ phần Thẩm định dự án Thẩm định khách hàng Thẻ Thị trường chứng khoán Thời gian Thời hạn vay Thủ quỹ Thử việc TienPhongBank Tiến sĩ Tiếp thị Tiền tệ ngân hàng Toán cao cấp Triết học Truyện cười Trắc nghiệm Tài chính cá nhân Tài chính doanh nghiệp Tài chính- ngân hàng Tài chính-Ngân hàng Tài khoản ngân hàng Tài liệu ngân hàng Tài trợ ngoại thương Tìm kiếm khách hàng Tư vấn thẻ Tập đoàn nước ngoài Tổ chức thanh toán toàn cầu Swift Tổ chức thẻ quốc tế Master Card Tổ chức thẻ quốc tế Visa Tự tin Tỷ lệ chiết khấu VAMC VBS VIB bank VN-index Vest Vietcapital Bank Vinaphone Viết CV Viết biên bản Viết tờ trình Việt Nam Vận đơn Xu hướng Xuất khẩu Xếp hạng tín dụng bitcoin bài tập NHTM bài tập kế toán bách khoa báo cáo thường niên bảng tính bảo hiểm tiền gửi bảo mật bệnh trì hoãn chi phí phải trả chi phí sản xuất chính sách chính sách lãi suất chính trị chất lượng kiểm toán chế độ đãi ngộ công cụ thị trường tài chính cấm đường. cấm xe máy cử nhân tài chính cửa sau daily bank doanh nghiep dongabank dự phòng phải trả economics facebook free ebook gia hạn giao dịch đảm bảo goal seek gpbank grab hiện tại hiệu quả tài chính hmtd hoạt động hoạt động kinh doanh hoạt động tài chính hát hóa đơn hạch toán học bổng học hỏi học vấn hối đoái hồi hương lập nghiệp hồng kông hợp đồng ielts internet banking interview jetstar khuyến mại khách hàng khó khăn khóa học khả năng chi trả khả năng thanh toán khởi nghiệp ngân hàng khủng hoảng khủng hoảng tài chính kiem toan kinh doanh ngân hàng kinh nghiem thi tuyen kinh nghiệm chọn ngân hàng kinh ngiệm thi tuyển kinh te kinh thi tuyển kinh tế ngoài quốc doanh kinh tế xã hội kiểm toán nội bộ kpi kê toán kĩ năng bán hàng kĩ năng sông kĩ năng tuyển dụng kĩ năng viết mail kế toán thuế kế toán tổng hợp kỳ phiếu ngân hàng liên ngân hàng loại hình tín dụng ngân hàng luat ngan hang làm giàu lãi suất danh nghĩa lãi suất hiệu dụng lãi suất ưu đãi lương khủng lợi thế thương mại lừa đảo malaysia master card mô hình môi trường chính trị ngan hang Viet Nam ngan hang ngoai thuong viet nam ngan hang nha nuoc ngoại hối ngoại thương ngân hàng 100% vốn ngoại ngân hàng Việt Nam ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam ngân hàng người nghèo ngân hàng nhà nước việt nam ngân hàng thương nghiệp ngân hàng thế giới ngân hàng tốt nhất ngân hàng điện tử nhà nước nhân công nhân viên bán hàng nhân viên ngân hàng nhóm ngân hàng nhập khẩu nhật bản năm 2016 năm tài chính năng lực nước ngoài nỗi khổ nhân viên phi ngân hàng pháp pháp luật phát triển kinh tế phân tính tài chính phí phó phòng kinh doanh phỏng vấn nhóm phỏng vấn song ngữ quyết toán thuế quân sự quản lý quản lý thời gian quản trị tài chính quỹ tiền tệ rút tiền rủi ro thanh toán sai lầm sai sót sam sung scb bank southernbank steve jobs sách hay sản phẩm sản xuất sếp sứ mệnh sự thật về nghề ngân hàng tai chinh taxi teen test tham nhũng thi đậu ngân hàng thu chi ngân sách thu hẹp thu nhập thu nhập thấp thuế tncn thông tư thông tư 36 thư xin việc thẻ chíp thẻ từ thế giới thị trường tài chính thực trạng tieng anh tin tức. tin tức tổng hợp tiền dự trữ tiền lương tiền mặt toefl trích lập dự phòng trắc nghệm tài chính hành vi học tài sản tài sản cho thuê tài chính tài sản ngân hàng tmcp tài sản tài chính tài trợ tình hình việt nam 2016 tín dụng ngắn hạn tín dụng đầu tư phát triển tầm nhìn tập đoàn kinh tế tắc đường tổ chức kinh tế tổ chức tài chính tổng cục thuế tỷ số tài chính uber vai trò nghiệp vụ vay vay nợ vi phạm hành chính viet sach vietcaptal bank vietnam airlines viettin bank visa việc làm webinar word wowapp xã hội xếp hạng tín nhiệm Điểm yếu Điện tử viễn thông Đông Nam Bộ Đại Á Đảo nợ Đấu thầu Đề thi theo ngân hàng Đề án Đồng nghiệp đa dạng hóa đầu tư. điện tử đổi tiền ứng viên

Discounted cash flow method

Bên cạnh định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng cổ tức thì phương pháp chiết khấu dòng tiền được khá nhiều người ủng hộ và thậm chí phương pháp này còn được giới phân tích tài chính ưa dùng hơn. Về mặt lý thuyết thì đây thực sự là một phương pháp khá tuyệt vời, tuy nhiên trên thực tế, chúng ta có thể gặp vài khó khăn khi dùng phương pháp chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiểu. Một số phương pháp định giá khác cũng hữu ích, chúng giúp chúng ta có được một cái nhìn tòan diện hơn về giá trị của cổ phiếu.

Những vấn đề cơ bản về phân tích chiết khấu dòng tiền


Lý thuyết chiết khấu dòng tiền phát biểu rằng giá trị của tất cả dòng tiền tạo ra tài sản bao gồm từ những thu nhập cố định cho đến các khoản đầu tư đối với tòan bộ doanh nghiệp thực ra chính là giá trị hiện tại của dòng tiền mong đợi trong tương lai được chiết khấu về hiện tại với một chiết khấu hợp lý. Đối với định giá doanh nghiệp thì người ta hay dùng khái niệm dòng tiền tự do. Mức chiết khấu hợp lý đối với doanh nghiệp chính là chi phí sử dụng vốn trung bình (WACC) của chính doanh nghiệp đó.

Công thức thường dùng là:


Tiến hành thực hiện phương pháp trong thực tế, hoặc ngay cả khi G từng định giá 1 vài doanh nghiệp niêm yết thì điều quan trọng nhất khi áp dụng DCF là xác định được tỷ lệ tăng trưởng g (liệu DN sẽ có mức độ tăng trưởng là bao nhiêu, và qua các năm thì sẽ lại khác nhau, số liệu này đa phần là do chủ quan người phân tích, để tính ra được g là bao nhiêu là chuyện gần như không thể và không có công thức chuẩn cho nó.)

Với ls chiết khấu, tôi thường lấy bằng ls trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm tương ứng. (Nguồn: Website của NH nhà nước)

Theo DCF thì để xác định được giá trị của doanh nghiệp cần phải xác định khoảng thời gian dự báo (thường là 5-10 năm đối với các doanh nghiệp đã tương đối vững mạnh) rồi ước lượng các dòng tiền tự do, xác định mức chiết khấu hợp lý, ước đóan mức tăng trưởng của doanh nghiệp và xác định giá trị còn lại vào cuối kỳ dự báo. Gía trị còn lại vào cuối kỳ dự báo( terminal value) chính là thành phần [TFCF / (k - g)] / (1+k)n-1 trong công thức trên.

Lấy giá trị hiện tại PV chia cho số cổ phần đang lưu hành của doanh nghiệp ta sẽ được giá trị hợp lý của mỗi cổ phần. Đó chính là giá trị mà bạn đang tìm kiếm đấy! Đến đây có vẻ như phương pháp DCF cũng không mấy khó khăn để sử dụng. Nhưng thực tế thì bạn sẽ gặp phải một số vấn đề sau:

Các vấn đề thường gặp với phương pháp chiết khấu dòng tiền


Các kế họach tạo ra dòng tiền hoạt động

Yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố quan trọng nhất trong việc dùng mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phần chính là ước đoán chuỗi các kế hoạch tạo ra dòng tiền hoạt động cho doanh nghiệp. Có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập và dòng tiền được dự báo. Đó chính là nguyên nhân bạn sẽ gặp vấn đề khi sử dụng phương pháp DCF. Dễ thấy nhất là tính không chắc chắn của các dự án về dòng tiền tăng lên qua từng năm dự báo trong khi mô hình DCF thường phải sử dụng từ 5 đến 10 năm để có được một dự đoán có giá trị. Chính tính không chắc chắn với thời gian có thể sẽ khiến mô hình của bạn không mang lại kết quả như mong đợi, thậm chí là một kết quả khác xa nhiều so với kết quả bạn mong muốn. Các nhà phân tích có thể dự báo khá chính xác dòng tiền hoạt động trong năm nay và năm sau nhưng cũng không thể có đủ khả năng để dự báo chính xác cho những năm xa hơn của tương lai. Thu nhập và dòng tiền có thể bị giảm một cách nhanh chóng bởi vì các yếu tố bất ngờ nào đó. Tệ hại hơn là các dự án về dòng tiền xây dựng cho một năm bất kỳ thường được dựa trên kết quả của năm liền trước đó.

Các kế hoạch về chi tiêu vốn


Các dự án về dòng tiền tự do cũng đi liền với các kế hoạch về chi tiêu vốn cho mỗi năm. Cũng vậy, mức độ không chắc chắn của các con số trong kế hoạch chi tiêu vốn tăng lên theo mỗi năm. Trong năm hoạt động không mấy khả quan thì tình hình chi tiêu vốn có thể tạo nên những sai lệch do các nhà quản trị sẽ thắt chăt các kế hoạch chi tiêu vốn và ngược lại. Do đó các giả thiết để xây dựng kế hoạch về chi tiêu vốn luôn hàm chứa rất nhiều rủi ro. Trong khi đó, có khá nhiều phương pháp để tính toán chi tiêu vốn ví dụ như sử dụng tỷ số vòng quay tài sản cố định hoặc là sử dụng phương pháp tính theo phần trăm doanh thu, những sự thay đổi dù nhỏ trong các giả định của mô hình cũng có thể tạo nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với kết quả tính toán của mô hình DCF.

Mức chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng

Có lẽ một trong các giả định quan trọng nhất của mô hình DCF chính là các giả định về mức chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng. Có khá nhiều cách để xác định mức chiết khấu trong mô hình DCF định giá cổ phần. Các nhà phân tích thường sử dụng công thức mức chiết khấu R=Rf + β*(Rm - Rf) hoặc là sử dụng chi phí sử dụng vốn trung bình WACC của doanh nghiệp như một tỷ lệ chiết khấu hợp lý khi sử dụng DCF để định giá doanh nghiệp. Cả hai phương pháp trên đều khá lý thuyết và chúng thật sự không vận hành hiệu quả lắm trong ứng dụng đầu tư thực tế. Các nhà đầu tư khác có thể chọn một tỷ suất rào cản tuỳ ý để định giá cho tất cả các khoản đầu tư vốn cổ phần. Dĩ nhiên là bạn nên biết rằng khi chọn một phương pháp nào để dự báo suất chiết khấu thì không có nghĩa là bạn sẽ có được những câu trả lời chắc chắn chính xác. Có lẽ vấn đề lớn nhất đối với giả định về tỷ lệ tăng trưởng chính là khi chúng được sử dụng như một giả định về tốc độ tăng trưởng liên tục. Gỉa định rằng một doanh nghiệp có thể giữ mức tăng trưởng liên tục là một giả định rất lý thuyết. Các nhà phân tích đã tranh luận rằng tất cả các công ty lớn mạnh đang hoạt động với mức tăng trưởng liên tục như giả định sẽ có khuynh hướng chỉ đạt ở mức tăng trưởng chung của nền kinh tế trong dài hạn. Thêm vào đó, mức tăng trưởng của công ty sẽ thay đổi, đôi khi là thay đổi rất nhanh qua từng năm hoặc thậm chí là qua từng thập kỷ. Hiếm khi nào mà một doanh nghiệp đạt đến một mức tăng trưởng nào đó và có thể duy trì mức tăng trưởng đó mãi mãi.

Quay trở lại với cách tính toán trong mô hình DCF dễ thấy kết quả của nó rất nhạy cảm với bất cứ một sự thay đổi nào dù là nhỏ nhất trong giả định về tỷ lệ chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng.

Các phương pháp thay thế

Ngay cả với một người có lòng tin chắc chắn đối với DCF, xem đây là mô hình tuyệt vời nhất trong xác định giá trị của đầu tư cổ phần thì việc xem xét thêm các phương pháp khác để xác định giá cả mục tiêu cũng là một việc làm hữu ích. Nếu bạn đang lập kế hoạch về thu nhập và dòng tiền cho các khoản đầu tư, thì việc tính toán một số chỉ số bổ trợ để bạn ra quyết định là hết sức đơn giản. Các chỉ số như P/E, giá/ dòng tiền là các chỉ số được xác định dựa trên lịch sử hoạt động của công ty và thông tin trong ngành của nó. Cố gắng lựa chọn khéo léo một loạt các chỉ số nói lên mức độ hấp dẫn của doanh nghiệp là việc nên làm.

Chúng ta đều biết rằng khác với mô hình DCF, nếu định giá doanh nghiệp dựa trên tỷ số P/E hoặc giá/ dòng tiền thì cứ sau mỗi lần giao dịch, chúng ta lại có các dữ liệu quá khứ để dự đoán chính xác hơn khả năng trong tương lai. Trong khi đó ngược lại các tính toán về tỷ lệ chiết khấu trong mô hình DCF thì ít phụ thuộc vào các dữ liệu quá khứ, chúng ta chỉ tính toán lần đầu tiên rồi cứ thế sử dụng cho suốt nhiều năm trong khoảng thời gian dự báo.

Thay lời kết!

Là một nhà đầu tư, khôn ngoan nhất chính là tránh việc luôn tin tưởng rằng một phương pháp nào đó là tốt nhất cho việc định giá cổ phần. Trong khi rất nhiều nhà đầu tư đồng tình rằng giá trị của cổ phần có liên quan với giá trị hiện tại của các dòng tiền tự do trong tương lai và phương pháp DCF được sử dụng xuất phát từ quan điểm ấy. Tuy nhiên mô hình DCF không hề dễ dàng để thực hiện trong bối cảnh thực tế. Có quá nhiều bất trắc với các giả định của nó. Việc tìm kiếm các phương pháp bổ trợ để ra quyết định chắc chắn là một việc làm không vô nghĩa. Các phương pháp bổ trợ sẽ giúp bạn có một cái nhìn toàn diện hơn về giá trị của cổ phiếu.


Giang's BLOG sưu tầm

Rủi ro hệ thống & phi hệ thống - Nó là gì, đại lượng bằng chỉ số nào?. Bài viết này nhằm làm rõ vấn đề này, dành cho ai muốn tìm hiểu về thị trường chứng khoán nói riêng & chứng khoán nói chung.



1. Rủi ro phi hệ thống (Unsystematic Risks) (Đo lường = Beta)
Là nhóm các rủi ro tác động riêng biệt đến từng Cty (từng cổ phiếu) như:
- Rủi ro kinh doanh
- Rủi ro tài chính
- Rủi ro bộ máy quản lý …v…v…
  • Đây là các rủi ro có thể giảm thiểu được nếu nhà đầu tư đầu tư vào nhiều CP
  • Đây còn gọi là Rủi ro có thể Đa dạng hoá được (Diversifiable Risks)

2. Rủi ro hệ thống (Systemactic Risks)
Là nhóm các rủi ro tác động đến toàn bộ thị trường, đến toàn bộ các Cty (toàn bộ CP)
Gồm 3 loại chính:
- Rủi ro thị trường (Giá CP lên xuống quanh gt thực)
- Rủi ro sức mua
- Rủi ro lãi suất
  • Đây là các rủi ro ko thể tránh khỏi => không thể đa dạng hoá
  • Đây còn gọi là Rủi ro KHÔNG thể đa dạng hoá được (non-diversifiable risks)

Mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model - CAPM)

Đây là một mô hình mô tả mối tương quan giữa rủi ro và thu nhập kì vọng, được sử dụng để định giá các chứng khoán có mức độ rủi ro cao.

Công thức tính toán như sau:
Giá trị chứng khoán = Tỷ lệ phi rủi ro + Tỷ lệ rủi ro của CK x (Thu nhập kỳ vọng - Tỷ lệ phi rủi ro)

Trong đó:

* Risk free rate (rf): tỉ lệ phi rủi ro
* Beta of the security: tỉ lệ rủi ro của chứng khoán
* Expected market return (rm): thu nhập kì vọng.


(?) Vì sao beta được giao cho "sứ mệnh" đo lường rủi ro của doanh nghiệp (Rủi ro phi hệ thống) ?
Beta được xác định với đầu vào là các tỷ suất lợi nhuận, mà tỷ suất này được tính toán dựa trên các mức giá của cổ phiếu theo thời gian. Hoá ra xét về mặt toán học beta chỉ là một công cụ đo lường khả năng biến động giá của các cổ phiếu so với sự biến động của chỉ số thị trường. như vậy tại sao nói beta là một đại diện cho rủi ro của doanh nghiệp. Tất nhiên chỉ có thể giải thích vấn đề này bằng EMH (Efficient Market Hyppothesis - Giả thuyết thị trường hiệu quả), theo thuyết này giá cả chứng khoán sẽ phản ánh tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp. Và như vậy beta đo lường rủi ro trong sự thay đổi mức giá của cổ phiếu, cũng chính là đo lường rủi ro của doanh nghiệp.

Trên thế giới, các thị trường tài chính phát triển được xem như là thị trường hiệu quả. Hệ số beta ở các thị trường này là một thước đo hiệu quả của rủi ro hệ thống.


(?) Ứng dụng của beta trên thế giới và Việt Nam như thế nào? (3)

Khi khái niệm beta ra đời, một nhà kinh tế học nổi tiếng khác là William Sharpe đã phát minh ra mô hình CAPM, chính mô hình này sẽ trả lời câu hỏi số 3. Chúng ta vẫn thường nghe câu châm ngôn của giới tài chính là high risk, high return. Điều này có nghĩa là beta của một cổ phiếu càng cao - hay rủi ro càng cao - thì lợi nhuận cũng phải cao để bù đắp cho sự sẵn lòng chấp nhận sự rủi ro đó. Trở lại với CAPM, ông Sharpe đã sử dụng hệ số beta để tìm mức phí bù đắp rủi ro khi đầu tư vào một cổ phiếu. Theo ông phí rủi ro của cổ phiếu bằng beta lần phí rủi ro của thị trường

Beta được xác định bằng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính - bình phương nhỏ nhất - với biến độc lập là và biến phụ thuộc là . Tuy nhiên, một số nơi để đơn giản hoá người ta giả định rf ít thay đổi và xem nó như một hằng số. Khi đó người ta thực hiện hồi quy với hai biến độc lập và phụ thuộc mới lần lượt.

Sau khi tìm ra hệ số beta được tính toán dựa vào các công ty chuyên cung cấp dịch vụ tính toán như Bloomberg, Baseline, Valueline hoặc do tự mỗi nhà đầu tư tính toán, dựa vào CAPM chúng ta sẽ tìm ra mức phí bù đắp rủi ro tương ứng với mức rủi ro mà chúng ta chấp nhận. tuy nhiên kết quả được xác định từ CAPM chỉ đủ để bù đắp rủi ro hệ thống mà không tính đến rủi ro của từng công ty. Do vậy chúng ta phải tiếp tục điều chỉnh mức phí này dể có thể bù đắp cho rủi ro tổng thể. Cách làm dơn giản nhất là cộng thêm vào mức phí được tính từ CAPM giá trị trung bình đơn giản của các sai số ngẫu nhiên khi chúng ta tiến hành hồi quy các dữ liệu quá khứ. các giá trị sai số ngẫu nhiên này đại diện cho các rủi ro phi hệ thống, và một giá trị trugn bình đơn giản của chúng là một thước đo phù hợp cho loại rủi ro này.

Ở các thị trường phát triển, beta được dùng để đánh giá một mức phí rủi ro chuẩn cho các nhà đầu tư. nếu mức phí thực tế của một cổ phiếu cao hơn mức phí chuẩn của chính cổ phiếu đó, thì đây là một cơ hội tốt để mua vào. Vì lúc này cổ phiếu đang bị định giá thấp hơn giá trị thật của nó. Và dĩ nhiên khi thị trường nhận ra sự hớ hênh của mình trong việc định giá cổ phiếu, thì khi đó giá của cổ phiếu sẽ được điều chỉnh tăng lên để mức phí rủi ro trở về mức chuẩn. Và ngược lại khi mức phí rủi ro thấp hơn mức chuẩn, thì lại là một cơ hội bán ra trước khi mức giá rơi xuống trở lại.

Chính EMH đã tước bỏ cái nhiệm vụ mà người ta giao cho beta ở thị trường Việt Nam. Thật vậy với sự hình thành và hoạt động trong hơn 7 năm, thì chưa thể nói TTCK Việt Nam là một thị trường hiệu quả. Những vấn đề tồn tại ở TTCK Việt Nam bao gồm:


• Thứ nhất đó là mức giá, EMH cho rằng mức giá phản ánh mọi hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng ở Việt Nam mức giá chỉ thể hiện một phần mà thôi, phần lớn là do sự tác động từ cung cầu của các nhà đầu cơ. Do vậy beta được tính từ các mức giá này không thể nói lên rủi ro của doanh nghiệp.


• Thứ hai đó là danh mục thị trường. Hiện nay ở Việt Nam có hai chỉ số chính là VN-Index và Hastc-Index. hai chỉ số này chưa đủ sức để tạo nên một danh mục thị trường, dựa trên hai phương diện. Một là danh mục này chưa có đầy đủ các lĩnh vực ngành nghề trong nền kinh tế. Hai là trong từng lĩnh vực không bao gồm các doanh nghiệp đại diện cho lĩnh vực đó. Chính vì vậy sự biến động của danh mục chưa đánh giá chính xác sự biến động của nền kinh tế.


• Thứ ba khoảng thời gian các công ty được niêm yết còn quá ngắn. Chủ yếu được lên sàn từ cuối năm 2006, do đó dữ liệu giá chưa đủ độ dài để có thể tiến hành hồi quy tìm ra hệ số beta.
Sau những hạn chế vừa nêu của TTCK Việt Nam, vẫn biết beta hầu như không có ý nghĩa gì nếu được tính toán trong giai đoạn này. Nhưng có một ứng dụng mà tôi nghĩ sẽ là hữu ích nếu chúng ta sử dụng nó đúng cách. hãy trở về với bản chất đầu tiên của beta, đó là một công cụ thống kê đo lường khả năng biến động của cổ phiếu so với sự biến động của thị trường.

Vậy tại sao không sử dụng beta như một chỉ báo (Indicator) trong phân tích kỹ thuật. Theo đó khi beta bắt đầu vượt qua mốc 1, ta sẽ quan sát chỉ số VN-Index, nếu nó có dấu hiệu tăng lên thì sẽ là thời điểm nên mua vào, vì giá chứng khoán sẽ gia tăng theo sự gia tăng của chỉ số. ngược lại nếu chỉ số giảm thì nên bán ra vì giá chứng khoán sẽ giảm theo sự giảm của chỉ số.

WEBSITE tham khảo để xem thực tế Beta của các công ty niêm yết tại Việt Nam:
www.chungkhoan360.vn [right]Trích Từ [url]wWw.ueh.vn[/url][/rig


- Giang's BLOG -


File Excel định giá trái phiếu





Phiên bản DEMO

TẢI VỀ
(Dung lượng: 370 Kb/ Dạng file: .RAR)

(Những gì còn đọng lại sau khóa học chứng khoán tại UBCK - Khóa phân tích & đầu tư chứng khoán )

Tài liệu tham khảo để làm file này:

1. Phân tích và lựa chọn trái phiếu (RAR/ 149 Kb)
2. Advanced Fixed Income Analysis (RAR/ 1,48 MB)
3. Fixed income attribution (RAR/ 1,22 MB)


Nguồn: Giang's BLOG
Author: Nguyễn Lê Giang

Định Giá Trái Phiếu
Campbell R. Harvey
Dịch Viên: Nhân Thụy


1. Giới Thiệu

Bạn muốn nhận được $100 ngay hôm nay hay vào năm tới? Hiển nhiên rằng bạn muốn nhận được tiền ngay hôm nay rồi. Bạn có thể gửi ngân hàng và năm tới giá trị tăng vượt mức $100. Do đó thời gian là một nhân tố quan trọng khi ta muốn đánh giá tiền tệ.
Chúng ta sẽ tìm câu trả lời cho hai vấn đề sau: Giá trị hôm nay của $100 nhận được vào năm sau và giá trị nhận được vào năm sau của $100 hôm nay? Với câu hỏi đầu tiên đề cập đến giá trị của ngày hôm nay và được gọi là giá trị hiện tại . Câu hỏi thứ hai đề cập đến giá trị của năm tới và được gọi là giá trị tương lai .

2. Tính Lãi Kép Liên Tục và Lãi Kép Không Liên Tục.

Trước hết ta cần thiết lập một số quy ước:
V0 = là giá trị hiện tại
Vt = là giá trị tương lai tại thời điểm cuối những giai đoạn t
t = là số lượng giai đoạn
i = là lãi suất thực theo kỳ hạn hay còn gọi là lãi suất thực theo kỳ hạn tính lãi kép
R = là lãi suất năm (APR) hay đôi khi còn gọi là "lãi suất danh nghĩa"
n = là số giai đoạn tính lãi kép
r = là lãi suất thực hàng năm
Lãi suất thực theo kỳ hạn i bằng với lãi suất danh nghĩa R chia cho số giai đoạn tính lãi kép hàng năm:

Lãi suất thực hàng năm r là lãi suất kép hàng năm bằng với lãi suất thực theo kỳ hạn i được tính kép n lần mỗi năm

Chú ý rằng n lớn hơn (được tính lãi suất kép nhiều giai đoạn mỗi năm), thì lãi suất thực hàng năm trở thành:

trong đó e là số mũ tự nhiên, e xấp xỉ 2.718. Ta sẽ chứng minh công thức này.

Chứng minh

Chúng ta sẽ chứng minh rằng

Trong trường hợp đặc biệt R=0, thì kết quả này quá hiển nhiên. Ta xét những trường hợp R khác 0. Lấy logarit vế phải của hàm này


Chia và nhân cho R và chú ý rằng logarit của 1 bằng 0, chúng ta có thể viết lại như sau

Điều quan trọng trong chứng minh công thức này là thương số hiệu của hàm logarit. Vì thế

Sau khi tính toán và biết rằng:

và ta lấy trường hợp x=1. Có nghĩa là

và ngược lại:

Ví dụ

Giả sử một ngân hàng trả lãi số tiền gửi của bạn với lãi suất danh nghĩa 4% (R=.04). Bảng sau đây thể hiện những lãi suất thực khác nhau tuỳ theo số lần tính lãi mỗi năm
Tính lãi kép theo Công thức Lãi suất thực
1=theo năm
4=theo quý
12=theo tháng
52=theo tuần
365=theo ngày
8760=theo giờ
=liên tục
Vì thế nhà đầu tư nào cũng muốn số lần tính lãi kép càng nhiều. Lãi suất kép liên tục luôn cao hơn lãi suất có kỳ hạn.

3. Giá Trị Tương Lai

Giá trị tương lai được tính theo như ví dụ sau. Giả sử rằng bạn gửi $1000 và được trả lãi suất hàng năm là 4%. Vậy giá trị của số tiền gửi của bạn vào sau 6 năm là bao nhiêu?

Giá trị tương lai được tính theo công thức của ví dụ này:

Vì thế giá trị tương lai của số tiền gửi V0 hôm nay vào cuối thời điểm T(1+R)^TV0. Nếu tiền gửi được trả lãi theo lãi suất liên tục thì công thức tính sẽ là

Theo ví dụ trên thì giá trị tương lai của $1000 với lãi suất liên tục là $1271.25. Lưu ý rằng giá trị tương lai sẽ cao hơn nếu lãi suất được tính kép liên tục bởi vì như thế thì lãi suất thực sẽ cao hơn.
(1+R)^T hay e^{RT} đôi khi còn được gọi là nhân tố tích luỹ hay hệ số nhân tiền tệ.

4. Hệ Số Nhân của Tiền[1]

Như cái tên của nó, hệ số nhân của tiền dùng để đo nhân tố dùng để nhân với số tiền của bạn trong tương lai theo lãi suất R và thời hạn T cho trước.

Thường thì lợi nhuận từ vốn đầu tư tuỳ thuộc vào thời gian mà số tiền bạn được giữ. Hãy quan sát bảng phụ lục lãi suất của ngân hàng bên dưới. Các mức lãi suất từ 1 đến 5 năm do Wachovia quy định.

Chú ý rằng hệ số nhân của thị trường tiền tệ sẽ tăng theo luỹ thừa cùng với kỳ hạn thanh toán. Hơn nữa, tỉ lệ gia tăng cũng phụ thuộc vào mức lãi suất.

5. Giá Trị Hiện Tại

Giả sử rằng chúng ta biết được giá trị tương lai (V_T) của số vốn đầu tư, thì giá trị hiện tại của nó cũng dễ dàng tính được. Từ công thức tính giá trị tương lai:

Ta chia hai vế cho hệ số nhân của tiền và ta sẽ có công thức tính giá trị hiện tại:

Trong trường hợp lãi suất với kỳ hạn liên tục, ta có công thức sau:

Ví dụ
Một người cần $200,000 trong 10 năm nửa để có tiền cho con của cô ta theo học MBA. Vậy hôm nay cô ta cần đầu tư bao nhiêu để nhận được $200,000 trong tương lai, biết lãi suất là 8%?

6. Mức Giá Của Trái Phiếu Chiết Khấu

Chúng ta có thể sử dụng những công cụ có sẵn tính giá trị hiện tại và giá trị tương lai để đánh giá trái phiếu chiết khấu. Trái phiếu chiết khấu là loại trái phiếu được trả $1 vào thời điểm T và lãi suất không được trả trước thời gian này. Loại trái phiếu này được bán tại Mỹ với những cái tên như zeros, money multipliers, CATs, TIGRs, và STRIP. CATs là Các Chứng Chỉ Chứng Khoán Kho Bạc Tích Luỹ Của Salomon Bros. TIGRs là Trái Phiếu Đầu Tư Phát Triển Của Merill Lynch, và TRIPS là Lãi Và Vốn Cổ Phần Đã Đăng Ký Giao Dịch Độc Lập.
Các loại chứng khoán này được bán với giá chiết khấu so với mệnh giá là $1. Phần tiền chiết khấu thể hiện số lợi nhuận kiếm được từ phần vốn đầu tư. Và bây giờ ta sẽ tìm hiểu công thức tính lợi nhuận khi biết được mức giá của trái phiếu chiết khấu (zero). Từ giá trị tại, chúng ta có thể tính được dòng tiền tương lai so với hiện tại với một lãi suất cho sẵn. Từ giá trị tương lai, ta cũng có thể tính được giá trị hiện tại (trị giá trái phiếu) và giá trị tương lai (mệnh giá trái phiếu tại thời điểm đáo hạn) và ta có thể tính được mức lãi suất. Xét công thức tính lãi suất sau:

Chia hai vế cho giá trị hiện tại và chia cả hai vế cho giá trị nghịch đảo của hệ số nhân tiền:

Sau đó chuyển thời gian đáo hạn sang vế bên phải:

Đây là công thức tính lãi suất tại thời điểm đáo hạn của trái phiếu chiết khấu. Trong trường hợp tính lãi liên tục, thì ta có công thức:

Ví dụ
Giả sử trái phiếu CAT có kỳ hạn là sáu năm tính từ hiện tại được giao dịch với giá $55 và giả sử mệnh giá của nó là $100. Thì lãi suất của nó được tính như sau:

Trong trường hợp lãi liên tục:

Chú ý rằng lãi suất liên tục luôn thấp hơn.
Ta hãy xét bảng mức giá của CATs (chứng chỉ trái phiếu thực) đựơc trích từ thời báo Wall Street.

Chú ý rằng giá của trái phiếu giảm theo thời gian.

7. Mức Giá Của Trái Phiếu Chiết Khấu và Hệ Số Nhân Tiền

Chúng ta có thể dễ dàng liên hệ công thức tính hệ số nhân của tiền với trái phiếu. Ta xét ví dụ sau. Giả sử một trái phiếu chiết khấu kỳ hạn 12 năm được bán với giá $0.25 (và 12 năm sẽ được trả là $1.00) Nếu ngay bây giờ nhà đầu tư có $1.00 để đi đầu tư, thì ông có thể mua được 4 cái trái phiếu. Vì thế với $1.00 đầu tư hiện tại sẽ lời được $4.00 trong 12 năm. Vậy hệ số nhân tiền là 4.
Trái phiếu chiết khấu và hệ số nhân tiền được thể hiện ở công thức sau:

trong đó Z_T là giá trị của trái phiếu chiết khấu vào thời điểm hiện tại và M_T là hệ số nhân tiền trong T giai đoạn. Chúng ta có công thức tính hệ số nhân:


Và kết quả là : lãi suất càng cao thì hệ số nhân càng lớn và mức giá của trái phiếu càng thấp.

8. Sử Dụng Trái Phiếu Chiết Khấu Để Tính Giá Trị Lưu Lượng Tiền

Giả sử bạn đang đầu tư với mức độ rủi ro bằng 0, với số vốn này trong 5 năm tới nó sẽ thu về một số lưu lượng tiền sau (phần tiền thu được)
CF_1 = 10
CF_2 = 20
CF_3 = 30
CF_4 = 40
CF_5 = 50
Thế giá trị hiện tại của số vốn đầu tư là bao nhiêu?
Để biết câu trả lời, ta có thể nghĩ ngay đến những lưu lượng tiền trên mà được xem là danh mục đầu tư vào trái phiếu với kỳ hạn trong suốt từ 1 đến 5 năm. Chúng ta có thể lập danh mục tái tạo lại bắng cách mua trái phiếu chiết khấu (Zero) với mệnh giá $1

Giả sử rằng đều có những mức giá khác nhau cho các trái phiếu chiết khấu với kỳ hạn khác nhau mà ta đang xét:

Vì thế khi bạn bỏ ra số tiền $96.96 vào ngay hôm nay và mua trái phiếu chiết khấu, số trái phiếu này cũng trả cho bạn số tiền như thế ngay vào thời điểm bạn bắt đầu đầu tư. Đây là phương pháp tìm giá trị hiện tại khi biết được lưu lượng tiền. Trước đó, ta đã xét qua một lưu lượng tiền tại thời điểm T và ta cũng đã biết tính giá trị hiện tại của lưu lượng tiền đó. Rõ ràng rằng ta có thể nghĩ đến phương pháp mua ngay trái phiếu chiết khấu hôm nay. Rõ ràng là chúng ta có thể dùng đến phương pháp đó là mua trái phiếu chiết khấu hôm nay để nhận được các lưu lượng tiền.

9.Trường Hợp Không Có Chênh Lệch Giá[2]

Chúng ta có thể định giá các lưu lượng tiền bằng cách lập ra danh mục tài sản giao dịch được tái tạo lại. Với giả định không có chênh lệch giá, danh mục tái tạo phải có cùng một giá trị như dự án. Những lưu lượng tiền tại các nước khác nhau trên thế giới phải có cùng một giá trị. Nếu có dòng nào mang giá trị cao hơn thì giá của nó sẽ giảm xuống vì các nhà đầu tư đều muốn hưởng lợi từ mức chênh lệch giá như thế. Số vốn đầu tư thấp hơn sẽ bị các nhà đầu tư tìm cách phá giá và đẩy nó lên cao hơn. Kết quả là các mức giá đều bằng nhau cả.
Nhưng không phải lúc nào cũng có trái phiếu chiết khấu để chúng ta sử dụng đều cho việc phát triển dự án. Thật ra các mức giá dùng trong phần trước đã được tìm với giả thuyết lãi suất là 13%. Hãy xét những lưu lượng tiền tương tự:

Chú ý rằng giá trị hiện tại ròng mà chúng ta vừa tìm được ở đây hoàn toàn giống với kết quả mà chúng ta đã tính trước đó, do những mức giá trái phiếu mà chúng ta sử dụng ở đây có lãi suất là 13%.

10. Hoạch Định Ngân Sách Vốn

Chúng ta có thể dùng lại cách thẩm định dự án đầu tư hay cách định giá những gì mà công ty thu được. Đối với dự án đầu tư, ta đều biết trước chi phí và doanh thu. Còn giá trị hiện tại ròng là giá trị số vốn đầu tư mà bạn bỏ ra ngay hôm nay - cũng đồng nghĩa với chí phí ròng.
NPV= PV(doanh thu) - PV(chi phí)
Xém ví dụ sau. Bạn chủ trì một cuộc họp bàn về một kế hoạch thu mua. Đó là mua lại một công ty, sau hợp thức hoá và đưa nó vào hoạt động cùng với công ty của bạn sau một khoản thời gian là 2 năm rồi bán nó đi. Chi phí phải bỏ ra hôm nay là $100 triệu. Vào cuối một năm sẽ đạt lợi nhuận là 10 triệu. Công ty đó sẽ được bán với giá là 160 triệu. Tỷ lệ chiết khấu của nó là 10%. Bỏ qua thuế, thì giá trị hiện tại ròng của dự án này là $41.322 triệu.

Một điểm quan trọng cần chú ý là bất kỳ một dự án nào mà giá trị hiện tại của nó là một số dương cũng có thể tự thân huy động vốn, tức là tự bản thân của dự án đó có thể thanh toán tất cả các chi phí. Hơn nữa, một khi dự án được tiến hành, giá trị hiện tại ròng -số dương- chính là doanh thu đạt được vào chính ngày hôm nay và được tính bằng đôla. Để hiểu thêm, ta xét lại ví dụ trên. Giả sử rằng bạn có thể mượn ngân hàng 100triệu với lãi suất 10% trong 2 năm. Bạn dự tính mua công ty đó. Bạn dùng doanh thu có được từ dự án đó để trả lãi năm đầu tiên. Vào cuối năm thứ hai, bạn vẫn nợ ngân hàng 110 triệu và bạn phải bán dự án của bạn với giá 160 triệu. Doanh thu của năm thứ 2 là 50 triệu. Do đó giá trị hịên tại của nó là 41.322 triệu.
Hãy nhớ rằng, trong những nghiệp vụ mà chúng ta thực hiện, thì ta không cần đụng đến số vốn của chúng ta. Tuy nhiên, tài sản của chúng ta sẽ tăng lên 41.322 triệu. Rõ ràng rằng:
Quy luật giá trị hiện tại ròng:
(a). Nếu giá trị của dự án là một số dương, thì ta nên tiến hành thực hiện dự án đó, nếu là số âm thì nên bỏ.
(b). Trong số những dự án mà giá trị của chúng đều dương, thì nên tiến hành thực hiện dự án nào có NPV cao nhất.
Chúng ta sẽ bàn thêm về thẩm định dự án đầu tư vào khoá sau. Trên trang www.kinhtehoc.com, đọc phần phân tích chi phí-lợi ích.

11. Động Thái Của Mức Giá Trái Phiếu

Ta nên chú ý đến chiều hướng mà giá trị hiện tại của các lưu lượng tiền thu từ dự án hay giá trị hiện tại của lưu lượng tiền thu được từ trái phiếu, thay đổi như thế nào khi lãi suất thay đổi. Bởi vì chúng ta đã biểu diễn công thức tính giá trị thực tại dưới hai dạng là lãi suất và lưu lượng tiền thu vào, nên chiều hướng thay đổi có thể được xác định bởi đạo hàm bậc nhất:



Tương tự với số hạng của trái phiếu chiết khấu



Chú ý rằng những đạo hàm trên đều mang dấu âm. Điều này nghĩa là giá của trái phiếu chiết khấu hoặc giá trị hiện tại của dòng tiền thu vào sẽ giảm khi lãi suất tăng. Hơn nữa, thời điểm đáo hạn T cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng giảm. Trái phiếu chiết khấu dài hạn sẽ giảm nhiều hơn so với ngắn hạn.
Để giải thích thêm điểm này, ta xét đến những động thái biến đổi của trái phiếu chiết khấu cũng như động thái của trái phiếu thường. Chú ý rằng những mức giá này luôn giảm khi lãi suất tăng cao. Mức giá giảm với tốc độ rất nhanh trong suốt một vài năm đầu và sẽ hạ dần khi thời gian đáo hạn tăng lên 30 năm.
Chúng ta cần có ví dụ làm rõ điểm này. Ta hãy xét một trái phiếu thường có kỳ hạn là 5 năm, lãi suất 12% và được trả lãi hàng năm. Chúng ta sẽ tính trị giá của trái phiếu này với hai mức lãi suất 12% và 13%.

Do lãi suất tăng nên giá của trái phiếu sẽ giảm. Với lãi suất 12%, giá trái phiếu sẽ bằng với mệnh giá, nhưng nếu lãi suất 13% thì phần lãi lẫn phần vốn sẽ ít hơn và do đó giá của nó thấp hơn.
Để đo lừơng mức biến chuyển của trái phiếu này ta dùng công thức tính lợi nhuận được trả theo kỳ hạn nắm giữ trái phiếu. Công thức này cho ta biết được lãi suất nhận được khi thời gian nắm giữ một khối tài sản trong tay trong một thời gian nhất định. Công thức này cũng có thể tính đến cả sự thay đổi về giá cũng như lãi suất.
Ví dụ, một trái phiếu kỳ hạn 6 năm lãi suất 12% được bán với mệnh giá $100 và nó được giữ trong thời gian 1 năm. Biết rằng lãi trả mỗi năm một lần. Giả định vào cuối thời điểm nắm giữ, lãi suất tăng từ 12 lên 13%. Thì lãi suất hiện giá sẽ được tính như sau:

Vì thế trong khi nhà đầu tư được hưởng mức lãi suất 12%, thì giá giảm sẽ làm cho tiền lãi theo kỳ hạn nắm giữ giảm xuống 8.5%

Copyright (c) 2006 by kinhtehoc.com

Author Name

{picture#https://plus.google.com/u/0/+NguyenLeGiang-giangblog/posts?pid=5737023715536993762&oid=100168487491037518423} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#https://www.facebook.com/legiang127} {twitter#https://twitter.com/giangblog} {google#https://plus.google.com/u/1/+NguyenLeGiang-giangblog} {youtube#https://www.javascript:void(0)youtube.com/channel/UC4ZQOsqcoN7ogzwR2Bn4NpQ} {instagram#https://www.instagram.com/legiang127/}

Image 2 Title

Image 2 Title

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Author: Nguyễn Lê Giang. Được tạo bởi Blogger.
Chat
1